TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

I.TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, sự vào cuộc mạnh mẽ của các cán bộ, ngành, địa phương và nỗ lực của toàn ngành, công tác giáo dục nghề nghiệp (GDNN) bước đầu đạt được những kết quả quan trọng. Nhận thức của xã hội, người dân, doanh nghiệp về GDNN đã có những chuyển biến tích cực; số lượng người tham gia GDNN ngày càng tăng; tỷ lệ người học sau tốt nghiệp có việc làm cao, thu nhập ổn định. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và GDNN từng bước được hoàn thiện; mạng lưới cơ sở GDNN phát triển rộng khắp, đa dạng về loại hình và trình độ đào tạo; các điều kiện đảm bảo chất lượng ngày càng được tăng cường; xuất hiện ngày càng nhiều mô hình đào tạo chất lượng cao, đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp, góp phần quan trọng vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện thành công các nhiệm vụ của ngành và phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực của thị trường lao động trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức, dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và xu thế dịch chuyển nhân lực trên thị trường lao động quốc tế, GDNN còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Tỷ lệ lao động được GDNN còn thấp, quy mô tuyển sinh đào tạo chưa tương xứng với năng lực hệ thống GDNN với nhu cầu thị trường: cơ cấu ngành, nghề đào tạo bất hợp lý; chất lượng, hiệu quả đào tạo của nhiều cơ sở GDNN chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của các ngành, địa phương và đơn vị sử dụng lao động.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên do nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền thiếu quyết liệt; nhận thức của xã hội về GDNN chưa đầy đủ; xã hội hóa GDNN còn hạn chế, chưa huye động được người nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động GDNN; triển khai tự chủ đối với nhiều cơ sở GDNN còn chậm; hợp tác giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp còn lỏng lẻo, thiếu tính bền vững; chưa thực hiện tốt dự báo nhu cầu nhân lực về quy mô, cơ cấu, trình độ làm cơ sở đổi mới kế hoạch hóa và nâng cao chất lượng giáo GDNN.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU

1. Quan điểm chỉ đạo

(1) Phát triển GDNN là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thức tư, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững của đất nước.

(2) Đổi mới và nâng cao chất lượng GDNN cần chú trọng của quy mơ và chất lượng đào tạo; kế thứa và phát huy những thành tựu đã đạt được, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam, đảm bảo tính ổn định của hê thống nhưng cần tầm nhìn dài hạn; nâng chất lượng GDNN từng bước đạt chuẩn khu vực và quốc tế để đáp ứng nhu cầu nhân lực trong nước và hội nhập với thị trường lao động khu vực và thế giới.

(3) Phát triển hệ thống GDNN theo hướng mở, đa dạng, linh hoạt với nhiều phương thức và trình độ đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và nâng cấp kỹ năng nghề nghiệp suốt đời của người lao động để đáp ứng yêu cầu của vị trí công việc, giảm trình trạng thất nghiệp và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động, cải thiện thu nhập và đời sống cho người lao động; Phát triển hệ thống GDNN cần sự tham gia của Nhà nước với ưu tiên bố trí ngân sách cho GDNN trong tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo; sự tham gia của các đối tác trong và ngoài nước.

(4) Gắn kết chặt chẽ GDNN với nhu cầu của thị trường lao động và phát triển kinh tế xã hội của đất nước; lấy sự chấp nhận của thị trường lao động làm thước đo của hiệu quả GDNN; chú trọng đào tạo thường xuyên, đào tạo cập nhật, đào tạo lại và đào tạo tại doanh nghiệp để phù hợp với yêu cầu của doanh nghiệp nhằm duy trì việc làm bền vững cho người lao động và nhu cuầ sử dụng nhân lực của doanh nghiệp; có chính sách đầu tư phát triển GDNN đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách, đối tượng dễ bị tổn thương, tạo cơ hội cho người lao động học nghề, lập nghiệp, góp phần xóa đối, giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội.

(5) Phát triển GDNN là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, là trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền, trước hết là của ngành lao động thương binh và xã hội các cấp, của doanh nghiệp và người dân.

2. Mục tiêu

2.1 Mục tiêu chung

Tiếp tục đổi mới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về sống lượng tuyển sinh, chất lượng đào tạo và hiệu quả của GDNN; phát triển GDNN với nhiều phương thức và trình độ đào tạo nghề nghiệp, nhất là đào tạo chất lượng cao thế hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực qua đào tạo cho thị trường lao động, góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế.

2.2. Mục tiêu cụ thể

Giai đoạn đến năm 2021

Phấn đấu nâng quy mô tuyển sinh đạt 2,6 triệu người mỗi năm; ít nhất 80% người có việc làm hoặc có năng suất, thu nhập cao hơn sau đào tạo; có 40 trường được kiểm định đánh giá, công nhận đạt tiêu chí của trường chất lượng cao, trong đó khoảng 3 – 5 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20; 40 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4; phấn đấu giảm tối thiểu 10% số cơ sở GDNN công lập, trong đó số lượng trường trung cấp giảm tối thiểu 15%, có ít nhất 10% cơ sở GDNN công lập tự chủ về tài chính.

Giai đoạn đến năm 2025:

Phấn đấu quy mô tuyển sinh đạt trên 4,6 triệu người mỗi năm; ít nhất 85% người có việc làm hoặc có năng suất, thu nhập cao hơn sau đào tạo; có 70 trường được kiểm định, đánh giá, công nhận đạt tiêu chí của trường chất lượng cao, trong đó có khoảng từ 5 -7 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20; 40 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4; tiếp tục giảm tối thiểu 10% số cơ sở GDNN công lập so với 2021; phấn đấu tối thiểu 20% cơ sở GDNN công lập tự chủ về tài chính.

Giai đoạn đến năm 2030

Phấn đấu nâng cao quy mô tuyển sinh đạt trên 6.3 triệu người mỗi năm; ít nhất 90% người học có việc làm hoặc có nâng suất, thu nhập cao hơn sau đào tạo; có 100 trường được kiểm định, đánh giá, công nhận đạt tiêu chí của trường chất lượng cao, trong đó 15 trường tiếp cận trình độ các nước phát triển trong nhóm G20; 50 trường tiếp cận trình độ các nước ASEAN-4. GDNN Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực ASEAN.

III. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhân thức của xã hội về GDNN.

2. Quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN.

3. Tăng cường gắn kết GDNN với thị trường lao động về việc làm bền vững.

4. Đẩy mạnh tự chủ của các cơ sở GDNN gắn kết với trách nhiệm giải trình, cơ chế đánh giá độc lập, giám sát của xã hội.

5. Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng trong hệ thống GDNN; phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng, phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng, đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ nghề quốc gia.

6. Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về GDNN; thúc đẩy xã hội giá GDNN

(Nguồn: Tạp chí giáo dục nghề nghiệp)


Chia sẻFacebook! Twitter! Zingme!