326A Nguyễn Trọng Tuyển, Phường Tân Sơn Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh
Liên hệ với chúng tôi
Đăng ký tuyển sinh
Trường Cao Đẳng Đại Việt Sài Gòn

Bản tin mới

Thành Tựu Nổi Bật Sau 80 Năm Xây Dựng, Bảo Vệ Và Phát Triển Đất Nước

Sau thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh đầy cam go, thách thức. Chính quyền cách mạng còn non trẻ phải đối diện với muôn vàn khó khăn, hiểm nguy, đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đan xen. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, sáng suốt, kiên định của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đoàn kết một lòng, phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường, bản lĩnh và trí tuệ sáng tạo, vững vàng vượt qua những ghềnh thác cam go của lịch sử...

1. Giành chiến thắng vĩ đại trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế

Sau thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh đầy cam go, thách thức. Chính quyền cách mạng còn non trẻ phải đối diện với muôn vàn khó khăn, hiểm nguy, đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài đan xen. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, sáng suốt, kiên định của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc Việt Nam đã đoàn kết một lòng, phát huy cao độ tinh thần tự lực, tự cường, bản lĩnh và trí tuệ sáng tạo, vững vàng vượt qua những ghềnh thác cam go của lịch sử.

Nhân dân huyện Ba Tơ tham gia đánh chiếm đồn Ba Tơ ngày 11/3/1945. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Giai đoạn 1945-1946, Đảng và Bác Hồ đã lãnh đạo toàn dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: xây dựng chính quyền cách mạng và bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/01/1946 được tổ chức thành công, Quốc hội khóa I ra đời; Hiến pháp dân chủ đầu tiên được ban hành; chính quyền cách mạng không ngừng củng cố; các phong trào xóa nạn mù chữ, diệt “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm” được phát động sôi nổi; các thế lực phản cách mạng bị trấn áp. Trước âm mưu xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp, đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” với quyết tâm: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”.

Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, kết hợp giữa đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta đánh bại từng bước các chiến lược của thực dân Pháp. Đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 - một bản anh hùng ca vĩ đại, “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Nhân dân ta, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Tuy nhiên, sau đó đế quốc Mỹ can thiệp sâu hơn vào miền Nam, thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Trước tình thế đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên quyết thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc - xây dựng hậu phương lớn cho cả nước, và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam - đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là bản anh hùng ca của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Trải qua 21 năm trường kỳ, gian khổ và oanh liệt (1954 - 1975), Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân hai miền đất nước giành thắng lợi từng bước trước các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ. Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa nỗ lực phục hồi và phát triển kinh tế, thực hiện nghĩa vụ hậu phương lớn, không ngừng chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, trực tiếp tham gia chiến đấu bên cạnh các cơ sở, lực lượng dân quân ở các địa phương, đóng vai trò nòng cốt, quyết định sự thành công của Cách mạng Tháng Tám. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN)

Sau ngày thống nhất, đất nước ta tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn to lớn. Một mặt, chúng ta phải khẩn trương khắc phục hậu quả nặng nề của hơn ba thập kỷ chiến tranh, ổn định đời sống Nhân dân, củng cố chính quyền cách mạng và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Mặt khác vừa chiến đấu bảo vệ biên giới, bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc; đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng và tiến hành công cuộc hồi sinh đất nước.

Trong khi kiên cường đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, nước ta còn phải đối mặt với tình trạng bị bao vây, cấm vận kéo dài từ bên ngoài; đồng thời, cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp không còn phù hợp, làm phát sinh nhiều hạn chế, bất cập trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong điều kiện đầy khó khăn ấy, Đảng vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, từng bước vượt qua trở lực, nhanh chóng khôi phục kinh tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và chủ quyền quốc gia, tạo nền tảng để chuyển hướng chiến lược trong tư duy phát triển.

Mười năm sau thống nhất (1975-1985) là giai đoạn đầy thử thách. Đó là thời kỳ Đảng ta từng bước tìm tòi con đường đổi mới, tư duy phát triển dần được hình thành từ thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu cũng như những khó khăn, hạn chế trong thời kỳ này đã để lại những bài học quý báu, đặt nền móng tư tưởng và thực tiễn cho công cuộc Đổi mới toàn diện do Đảng khởi xướng từ năm 1986.

2. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội

- Một quốc gia có chế độ chính trị độc lập, có chủ quyền lãnh thổ và tự quyết định con đường phát triển của mình

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự kiện ngày 2/9/1945 với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á đã chấm dứt vĩnh viễn chế độ phong kiến, kết thúc hơn 80 năm bị đô hộ. Từ đây, dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Tiếp nối thắng lợi ấy, ngày 06/01/1946, cuộc Tổng Tuyển cử toàn quốc lần đầu tiên được tổ chức theo nguyên tắc dân chủ, tiến bộ, với 333 đại biểu Quốc hội được Nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra. Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp năm 1946, xác lập nền tảng pháp lý nhà nước kiểu mới, khẳng định chính quyền của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân - có đầy đủ tư cách đại diện cho đất nước trên trường quốc tế.

Sau ba thập kỷ tiếp tục trường kỳ kháng chiến, đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối. Hội nghị Trung ương 24 (tháng 9/1975)xác định nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước. Kết quả, ngày 25/4/1976, hơn 23 triệu cử tri (98,8 % tổng số) tham gia Tổng Tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước. Tại kỳ họp đầu tiên, Quốc hội quyết nghị đặt tên nước là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là “Tiến quân ca”, Quốc huy mang dòng chữ “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, quyết định Hà Nội là Thủ đô và đổi tên Thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh.

Việc hoàn tất thống nhất đất nước về mặt nhà nước đã tạo điều kiện chính trị căn bản để huy động, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, mở đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời đại mới; khẳng định quyền tự quyết của Nhân dân Việt Nam trên con đường kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, hùng cường.

- Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ

Ngay từ khi ra đời tháng 2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định con đường xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh chính trị đầu tiên được Hội nghị thành lập Đảng thông qua, nêu mục tiêu chiến lược “làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập” để “tiến tới xã hội cộng sản”. Tiếp đó, Luận cương chính trị tháng 10/1930 chỉ rõ: cách mạng Việt Nam “bỏ qua giai đoạn tư bản, trực tiếp tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa”. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã xóa bỏ ách thực dân, phong kiến, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - kỷ nguyên mà Nhân dân làm chủ xã hội và chính cuộc sống của mình.

Tại Đại hội II (tháng 2/1951), Luận cương cách mạng Việt Nam lần đầu tiên trình bày những điều kiện và phương hướng quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trải qua hai thập kỷ chiến tranh giải phóng và kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, nhận thức đó tiếp tục được củng cố và phát triển. Bước ngoặt đổi mới toàn diện do Đại hội VI (tháng 12/1986) khởi xướng đã được lý luận hóa bằng việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng tổng kết thực tiễn cách mạng trong nước, đã tạo nền tảng cho tư duy mới về thời kỳ quá độ.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội VII (tháng 6/1991) thông qua và Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội XI phê chuẩn, là những mốc quan trọng đánh dấu quá trình hoàn thiện về lý luận. Tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa được xác định trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) giúp Đảng nhận thức sâu sắc hơn về dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân; về mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, coi chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế là trung tâm; về con người và văn hóa là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh của phát triển; về sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với mở rộng quan hệ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

Từ Đại hội VII đến Đại hội XIII, đường lối đổi mới được bổ sung, hoàn thiện, tiếp tục khẳng định: kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới đồng bộ, toàn diện trên mọi lĩnh vực, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thành quả đổi mới gần bốn thập kỷ qua chứng minh tính đúng đắn và sáng tạo của con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao, đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước không ngừng nâng cao. Những kết quả ấy khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, đồng thời minh chứng cho sự phát triển ngày càng sáng tỏ của nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Nền kinh tế thoát khỏi tình trạng trì trệ, khủng hoảng, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình

Giai đoạn 1945-1954 là thời kỳ đầu tiên xây dựng nền kinh tế mới ở Việt Nam, đồng thời cũng là giai đoạn gian khổ nhất trong lịch sử phát triển đất nước. Trong bối cảnh vừa giành được chính quyền, lại phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, nhiệm vụ xây dựng và cải tạo nền kinh tế được triển khai trong điều kiện hết sức khó khăn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã từng bước chuyển đổi nền kinh tế tàn dư của chế độ thực dân, phong kiến vốn lạc hậu, lệ thuộc, thành một nền kinh tế dân chủ, độc lập, phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc.

Từ năm 1955 đến năm 1975, đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai mô hình kinh tế - xã hội khác nhau. Ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế phù hợp với từng thời kỳ: từ khôi phục và hàn gắn vết thương chiến tranh (1955 - 1957), đến hoàn thành cải cách ruộng đất, cải tạo quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa (1958 - 1960), rồi chuyển sang phát triển kinh tế kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ xây dựng hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam trong điều kiện chiến tranh khốc liệt (1961 - 1975).

Giai đoạn 1976 - 1985, sau khi đất nước thống nhất, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là thời kỳ mà công cuộc cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Nhân dân cả nước tích cực triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 - 1980) và kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981 - 1985). Tuy đã đạt được một số kết quả bước đầu trong khôi phục sản xuất và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, nhưng nhìn chung nền kinh tế vẫn còn nhiều yếu kém. Những hạn chế của cơ chế quản lý tập trung, bao cấp kéo dài, cùng những khó khăn từ bên ngoài đã khiến nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ, mất cân đối, thậm chí có những biểu hiện của khủng hoảng nghiêm trọng.

Trước yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, từ năm 1986, Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Với việc từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp, phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích cực. Đến năm 1995, các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (1991-1995) đều hoàn thành và vượt mức, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo đà chuyển sang giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh và bao vây cấm vận, Việt Nam từng bước vươn lên trở thành một quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình. Tính đến năm 2024, quy mô nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 32 thế giới, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Thành quả ấy là minh chứng sinh động cho tầm vóc, trí tuệ và bản lĩnh của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong hành trình vượt qua khó khăn, khơi dậy nội lực, tranh thủ thời cơ, hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững.

- Văn hóa phát triển đa dạng, phong phú, dân tộc, khoa học, đại chúng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành nguồn lực phát triển đất nước

Nhận thức của Đảng và Nhà nước, của Nhân dân về vai trò của văn hóa trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng đầy đủ và nâng cao. Sự nghiệp xây dựng và phát triển vănhóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng. Tư duy lý luận về vănhóacó bước pháttriển; nhận thức về vănhóacủa các cấp, các ngành và toàn dân được nâng lên. Đời sống vănhóacủa Nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị vănhóatruyền thống của dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực vănhóa, đạo đức mới được hình thành. Sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật ngày càng phong phú, đa dạng; công nghệ thông tin, nhất là thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh mẽ. Nhiều phong trào, hoạt động vănhóađạt được những kết quả cụ thể, thiết thực; phát huy được truyền thống vănhóagia đình, dòng họ, cộng đồng... Xã hộihóahoạt động vănhóangày càng được mở rộng, góp phần đáng kể vào việc xây dựng các thiết chế vănhóa. Nhiều di sản vănhóavật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt vănhóatâm linh của Nhân dân được quan tâm. Công tác quản lý nhà nước về vănhóađược tăng cường, thể chế vănhóatừng bước được hoàn thiện. Đội ngũ làm công tác vănhóa, văn nghệ có bước trưởng thành; quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ được tôn trọng. Giao lưu và hợp tác quốc tế về vănhóacó nhiều khởi sắc.

- Hệ thống chính sách xã hội được xây dựng và ngày càng hoàn thiện

Từ năm 1986 đến nay, cùng với quá trình thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, lĩnh vực xã hội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Nhận thức và quan điểm của Đảng ta về chính sách xã hội ngày càng được hoàn thiện và phát triển thành một hệ thống nhất quán, với nội dung cốt lõi là:tăng trưởng kinh tế luôn phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển vì con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển.

Chính sách xã hội đúng đắn, nhân văn, vì hạnh phúc của Nhân dân được xác định không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực to lớn, khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng sáng tạo trong toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng ta khẳng định rõ trách nhiệm của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị và mọi người dân trong việc thực hiện và giải quyết các vấn đề xã hội theo hướng xã hội hóa mạnh mẽ, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, bảo đảm công bằng, hiệu quả và bền vững.

Những định hướng này hướng tới mục tiêu xây dựng một hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bao trùm, bền vững - nơi mọi người dân đều được bảo đảm an toàn về thu nhập, việc làm, sức khỏe, giáo dục, nhà ở và các dịch vụ cơ bản, qua đó khẳng định bản chất ưu việt của chế độ ta và củng cố niềm tin xã hội đối với sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước.

- Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị - xã hội, trật tự an toàn xã hội và môi trường hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển đất nước

Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, là tiền đề căn bản để giữ gìn thành quả cách mạng, bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho công cuộc phát triển đất nước nhanh và bền vững. Đây cũng chính là một trong những thành tựu lớn nhất, toàn diện và bền vững nhất trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh trong suốt 80 năm qua.

Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và sự đồng lòng của toàn dân tộc, chúng ta đã kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới quốc gia, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Đồng thời, luôn giữ thế chủ động chiến lược, xử lý linh hoạt, sáng tạo các tình huống phức tạp, nhạy cảm về quốc phòng - an ninh; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, nhất là trên không gian mạng, trong các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, dân tộc, tôn giáo và quyền con người.

An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; môi trường hòa bình, ổn định lâu dài cho phát triển đất nước được bảo đảm. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, được xây dựng đồng bộ, hiệu quả từ Trung ương đến cơ sở. Năng lực phòng thủ của đất nước, nhất là tại các khu vực trọng yếu chiến lược, ngày càng được tăng cường. Lực lượng vũ trang nhân dân không ngừng được củng cố, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Việt Nam kiên định đường lối quốc phòng toàn dân, nền quốc phòng mang tính hòa bình, tự vệ, không tham gia liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đường lối ấy đã nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam, góp phần củng cố niềm tin chiến lược, tạo dựng hình ảnh một đất nước yêu chuộng hòa bình, có trách nhiệm và chủ động hội nhập, hợp tác quốc phòng - an ninh, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc bằng sức mạnh tổng hợp. Đặc biệt, trước những thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng (dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu, khủng bố, an ninh mạng...), chúng ta đã nâng cao năng lực ứng phó, điều phối hiệu quả các nguồn lực, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân để giữ vững ổn định, củng cố niềm tin và tạo nền tảng vững chắc cho quá trình đổi mới, phát triển đất nước.

Thành tựu nổi bật trong bảo vệ Tổ quốc suốt 80 năm qua không chỉ là giữ gìn chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng, mà còn là giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ, đồng thời tạo thế và lực mới để Việt Nam hội nhập sâu rộng, nâng cao vị thế, uy tín trên trường quốc tế, khẳng định bản lĩnh và trí tuệ của một dân tộc kiên cường, độc lập và sáng tạo trong thời đại mới.

- Công tác đối ngoại đã góp phần duy trì, củng cố môi trường hòa bình ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa

Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời hình thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, mềm dẻo, tranh thủ tối đa sự đồng tình của bạn bè quốc tế để bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ngoại giao Việt Nam kiên trì “lấy chính nghĩa thắng cường quyền”, khôn khéo kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, ngoại giao, tạo lập mặt trận dư luận rộng rãi ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của Nhân dân ta.

Từ đầu thập niên 1950, hoạt động đối ngoại được triển khai có hệ thống trên ba kênh bổ trợ lẫn nhau: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Cơ chế phối hợp liên hoàn ấy đã làm phong phú phương thức vận động quốc tế, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và sau đó là công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bước sang thời kỳ đổi mới, trong bối cảnh trật tự thế giới biến chuyển sâu sắc, Đại hội VII (1991) xác lập phương châm “đa phương hóa, đa dạng hóa” với tinh thần: Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Đại hội IX và các Đại hội sau tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, lấy lợi ích quốc gia - dân tộc và hòa bình, hợp tác, phát triển làm điểm tương đồng.

Nhờ kiên định đường lối ấy, Việt Nam đã bình thường hóa và thúc đẩy quan hệ với các đối tác then chốt, gia nhập ASEAN, WTO, CPTPP và ký EVFTA, RCEP…; thiết lập mạng lưới đối tác toàn cầu; thiết lập và duy trì quan hệ ngoại giao với 194/194 nước thành viên Liên hợp quốc; thiết lập và nâng cấp nhiều mối quan hệ lên đối tác chiến lược và đối tác toàn diện; thiết lập quan hệ hữu nghị, hợp tác sâu rộng với 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc, toàn bộ G7 và 17/20 nước G20; khẳng định vai trò, uy tín trên các diễn đàn đa phương; tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình; triển khai hiệu quả ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa…, góp phần quan trọng duy trì môi trường hòa bình, bảo vệ chủ quyền, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

3. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đặt nền móng đầu tiên cho chế độ nhà nước kiểu mới ở nước ta - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Bản Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta - thể hiện rõ yêu cầu về một nhà nước dân chủ, pháp quyền. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền đã được khẳng định ngay từ thời điểm đó: chủ quyền lập hiến thuộc về Nhân dân; bộ máy nhà nước phải là công cụ thực hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân; cán bộ, công chức không được là “ông quan cách mạng” mà phải là “công bộc của dân”, lấy hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phục vụ. Pháp luật không phải công cụ trừng trị mà là phương tiện bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân.

Tư tưởng cốt lõi đó đã được Đảng kế thừa và từng bước hoàn thiện trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Đại hội VII của Đảng (năm 1991) và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã lần đầu tiên xác định những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công rõ ràng giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) chính thức đưa nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vào văn kiện Đảng. Các Đại hội IX (2001), X (2006) tiếp tục khẳng định và bổ sung nội dung này.

Đến Đại hội XI (năm 2011), Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Những định hướng này được cụ thể hóa trong Hiến pháp năm 2013 và nhiều đạo luật quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước. Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục khẳng định rõ: xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới hệ thống chính trị.

Qua các kỳ Đại hội, cùng với thực tiễn lãnh đạo, nhận thức và tư duy lý luận của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng được bổ sung, phát triển toàn diện và sâu sắc hơn. Theo đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không chỉ tiếp thu các giá trị tiến bộ chung của nhân loại, mà còn mang những đặc trưng phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện đầy đủ những nguyên lý căn bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ bản chất, nguyên tắc tổ chức, cơ cấu vận hành, phân công quyền lực nhà nước đến vai trò của pháp luật trong xã hội và sự lãnh đạo của Đảng.

Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được những kết quả hết sức quan trọng. Nhận thức lý luận về mô hình nhà nước này ngày càng đầy đủ, thống nhất hơn. Hệ thống pháp luật được xây dựng ngày càng đồng bộ, thống nhất, bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn. Vai trò của pháp luật và việc thực thi pháp luật được coi trọng trong hoạt động của cả hệ thống chính trị và đời sống xã hội.

Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng rõ ràng và hiệu quả hơn. Bộ máy nhà nước được tổ chức tinh gọn, hoạt động ngày càng hiệu lực, hiệu quả. Quốc hội tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, nâng cao chất lượng lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Chính phủ tích cực, chủ động trong điều hành, tập trung quản lý vĩ mô, cải cách hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn, phục vụ phát triển đất nước. Cải cách tư pháp được đẩy mạnh; các cơ quan tư pháp từng bước được hoàn thiện về tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động, bảo đảm nguyên tắc pháp quyền trong xét xử và thực thi công lý. Các quyền con người, quyền công dân được hiến định và ngày càng được cụ thể hóa bằng pháp luật và triển khai hiệu quả trên thực tế. Dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp tiếp tục được phát huy. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội từng bước đổi mới phương thức hoạt động, đóng góp thiết thực vào việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân.

Mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nguyên tắc “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” đang ngày càng hoàn thiện, trở thành nền tảng vững chắc góp phần vào những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Nguồn: Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

Khám phá sự kết hợp mạnh mẽ giữa Digital CRM và Digital Marketing

Hệ thống Website Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao các ngành kinh tế, công nghệ, kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe và sư phạm, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế chung của cả nước và khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

Sinh viên ra trường có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo tại các đơn vị kinh tế, sự nghiệp trong và ngoài nước. Mở rộng các chương trình liên kết đào tạo quốc tế nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực ngang tầm với quá trình hội nhập Quốc tế và khu vực của Việt Nam.

Hệ thống Website Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn4.959668
Trường Cao đằng Đại Việt Sài GònHệ thống Website Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn
(028) 22122599customer serviceVNVietnamese
Hệ thống Website Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn190070431.000.000 VND - 20.000.000 VND
326A nguyễn trọng tuyển, phường 1, quận tân bình, thành phố hồ chí minhHồ Chí Minh70000VNVN
10.79868062984345106.6660934288354
Monday08:30-17:30
Tuesday08:30-17:30
Wednesday08:30-17:30
Thursday08:30-17:30
Friday08:30-17:30
Saturday08:30-17:30

Hãy cho biết về trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Được thành lập vào năm 2000, với gần 25 năm kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn là một trong những nơi đi đầu trong việc đem lại một môi trưòng học tập hiện đại, tiện nghi với đội ngũ giảng viên đầy tâm huyết và lành nghề giúp cho sinh viên có cái nhìn thực tế nhất đối với ngành học mà mình đã lựa chọn.

Tại trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn, hệ thống các phòng thực hành đều được trang bị đầy đủ các thiết bị hiện đại đảm bảo cho sinh viên rèn luyện kỹ năng, tay nghề. Đồng thời các em còn được tiếp cận công nghệ mới tại các công ty đối tác - khu công nghệ cao; nâng cao khả năng ứng dụng Công nghệ thông tin, giao tiếp bằng tiếng Anh và các lớp học ngoại khóa. Từ đó, các em có đủ tự tin để hội nhập và phát triển, dễ dàng tiếp cận các vị trí tuyển dụng sau khi tốt nghiệp.

  • 70% thời lượng học thực hành

  • Chế độ thực tập có hưởng lương

  • Ra trường sớm chỉ từ 2 - 2,5 năm

  • Cam kết 100% có việc làm sau khi ra trường

Mục tiêu của trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn là gì ?

Luôn đổi mới đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội

Để công tác đào tạo nguồn nhân lực vừa được nâng cao về số lượng, vừa đáp ứng chất lượng mà xã hội yêu cầu. Nhà trường luôn đổi mới mạnh mẽ về cơ chế, chính sách, công tác quản lý đào tạo, nhất là đổi mới tư duy trong đào tạo theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội.

Bên cạnh đó, việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học được tăng cường. Với mục tiêu là đào tạo các kỹ năng thực hành, có khả năng làm việc độc lập sáng tạo. Đảm bảo chuẩn “đầu ra” đáp ứng tốt với thị trường lao động. Vì vậy, kết hợp giảng dạy lý thuyết với rèn luyện kỹ năng thực hành giúp người học có khả năng hành nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu công việc.

Với năng lực đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, đặc biệt là các ngành nghề trong khối ngành Chăm sóc sức khỏe. Trong những năm qua Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn đã xây dựng đội ngũ, chương trình chất lượng cao, cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, trang thiết bị y tế, mô hình giải phẫu phong phú và đảm bảo dạy học trực quan sinh động.

Ban quản lý dự án trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Nhằm cụ thể hoá chiến lược phát triển của Hệ thống Giáo dục Đại Việt tầm nhìn 2020 - 2030 trong việc đầu tư thành lập trường Đại học để tham gia đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao bậc Đại học - Sau đại học và hoàn thiện các cấp bậc đào tạo, được sự ủng hộ của Ủy ban nhân dân TPHCM, Bộ Giáo dục và Đào tạo, tại văn bản số 1694/TTg-KGVX của Thủ tướng Chính phủ đã cho phép chủ trương thành lập Trường Đại học Đại Việt Sài Gòn tại TPHCM hoạt động không vì lợi nhuận. Dự án với số vốn đầu tư hơn 1.000 tỷ đồng, mục tiêu hoạt động là mô hình đại học định hướng ứng dụng, đa ngành, đa lĩnh vực, có tính tự chủ cao.

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn có cam kết việc làm cho sinh viên ?

Chương trình Cam kết 100% đảm bảo có việc làm và đào tạo gắn doanh nghiệp

Để giúp cho sinh viên an tâm học tập và cam kết đảm bảo đầu ra cho sinh viên sau khi tốt nghiệp, Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn thực hiện ký hợp đồng cam kết 100% đảm bảo có việc làm đúng với ngành nghề mà sinh viên đã đăng ký học tập tại Trường. Để giải quyết vấn đề này, Nhà trường đã ký kết hợp tác với hơn 400 doanh nghiệp và bệnh viện tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên đi thực tập, kiến tập, học việc tại doanh nghiệp và tuyển dụng các em sau khi tốt nghiệp.

Thành tích đạt được của tập thể sư phạm Nhà trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Nhà trường đã trải qua gần 25 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành cho đến nay, hàng năm Nhà trường luôn được sự ghi nhận động viên và khen thưởng của các cấp như Bằng khen của UBND TP HCM, Bằng khen của Liên đoàn Lao động TP HCM, Cờ thi đua của thành phố,...

Tầm nhìn và sứ mạng của trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn đào tạo đội ngũ lao động giỏi chuyên môn, giàu nghị lực để đóng góp nguồn lao động chất lượng, tay nghề cao cho xã hội.

Đến năm 2030, Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn sẽ trở thành trường trọng điểm, chất lượng cao trong hệ thống các cơ sở giáo dục và đào tạo. Đào tạo nguồn nhân lực đa ngành, đa lĩnh vực đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập theo tiêu chuẩn Asean và quốc tế.

Sứ mạng của trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao các ngành kinh tế, công nghệ, kỹ thuật, chăm sóc sức khỏe và sư phạm, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế chung của cả nước và khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Sinh viên ra trường có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo tại các đơn vị kinh tế, sự nghiệp trong và ngoài nước. Mở rộng các chương trình liên kết đào tạo quốc tế nhằm góp phần đào tạo nguồn nhân lực ngang tầm với quá trình hội nhập Quốc tế và khu vực của Việt Nam;

  • Đào tạo đội ngũ lao động giỏi chuyên môn, giàu nghị lực để đóng góp nguồn lao động chất lượng, tay nghề cao cho xã hội;
  • Thực hiện chuyển giao những kiến thức công nghệ tiên tiến cho các doanh nghiệp và cá nhân thông qua các hoạt động tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực;
  • Hoàn chỉnh cơ cấu đào tạo hợp lý (quy mô, ngành học, văn bằng, loại hình đào tạo…) và đảm bảo học sinh, sinh viên ra trường có năng lực thật sự và có việc làm phù hợp;
  • Cung ứng các dịch vụ đào tạo và các dịch vụ khác thuộc chuyên môn của trường để phục vụ các doanh nghiệp và xã hội.

Ban giám hiệu trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn là những nhà giáo, nhà quản lý giáo dục có kinh nghiệm và tâm huyết với nghề, luôn đi sâu đi sát và chăm lo đến đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên, học sinh sinh viên, đoàn kết nhất trí thành một khối để phát triển nhà trường.

  • Tiến sĩ Lê Lâm

    Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn

    Tiến sĩ Lê Lâm tốt nghiệp Kỹ sư Điện tử - Tự động hóa, Thạc sĩ Quản lý Giáo dục, Tiến sĩ chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục tại Trường Đại học Giáo dục thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội, Cao cấp Lý luận Chính trị và Chứng chỉ Nghiệp vụ Quản lý Giáo dục nghề nghiệp.

  • Thạc sĩ Ngô Phương Dung

    Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn

    Thạc sĩ Ngô Thị Phương Dung tốt nghiệp Cử nhân Kinh tế, Thạc sĩ Quản lý Giáo dục và Chứng chỉ Nghiệp vụ Quản lý Giáo dục nghề nghiệp.

  • Thạc sĩ Dương Công Hiếu

    Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn

    Thạc sĩ Dương Công Hiếu tốt nghiệp chuyên ngành Kỹ sư Công nghệ Thông tin, Thạc sĩ Khoa học máy tính và Chứng chỉ Nghiệp vụ quản lý Giáo dục nghề nghiệp.

  • Thạc sĩ Lê Thị Bích Thảo

    Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn

    Thạc sĩ Lê Thị Bích Thảo tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Tiếng Anh, Thạc sĩ Quản lý giáo dục và Chứng chỉ Nghiệp vụ quản lý Giáo dục nghề nghiệp.

Nguyên tắc làm việc của trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Thực hiện việc lãnh đạo, quản lý và điều hành mọi hoạt động của nhà trường được thực hiện theo Điều lệ, Quy chế hoạt động và tổ chức của Nhà trường.

Giữ gìn và phát huy sự đoàn kết thống nhất, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao: Trong quá trình lãnh đạo, quản lý, điều hành nhà trường, Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng phải có sự phối hợp chặt chẽ đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả. Phát huy tính sáng tạo, chủ động của cá nhân, tinh thần cộng sự để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, hoàn thành các kế hoạch đã đề ra và các nhiệm vụ đột xuất mà cấp trên giao cho.

Thế mạnh của trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Với thế mạnh về đội ngũ giảng viên giỏi, giàu kinh nghiệm, hệ thống cơ sở vật chất hiện đại, cùng mạng lưới hợp tác doanh nghiệp trong và ngoài nước rộng lớn, Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn đã không ngừng khẳng định thương hiệu, chất lượng đào tạo ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung, là địa chỉ tin cậy trong cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao ở trình độ trung cấp và cao đẳng cho thị trường lao động.

Hiện trường đang có gần 7,000 sinh viên đang theo học. Hàng ngàn sinh viên trưởng thành từ Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn hiện đã và đang công tác ở nhiều vị trí khác nhau ở đa dạng các lĩnh vực từ giáo dục, y tế, kinh tế, tài chính, công nghệ, ô tô,... đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế- xã hội đất nước.

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn đào tạo đa dạng các ngành nghề ?

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn đào tạo đa dạng các ngành nghề, cụ thể bao gồm gần 64 chuyên ngành bậc cao đẳng ở 11 khoa, trong đó có: Khoa Y Dược, khoa Kinh tế, khoa Sư phạm, khoa Công nghệ ô tô, ngành chăm sóc sắc đẹp, khoa Ngoại ngữ, khoa Du lịch, khoa Kỹ thuật - Công nghệ, khoa Điện tử tự động, khoa Mỹ thuật ứng dụng, khoa Truyền thông và Marketing.

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn luôn cải tiến chất lượng đào tạo ?

  • Lấy ý kiến đánh giá của các doanh nghiệp

    Chất lượng đào tạo của trường luôn được cải tiến và cập nhật nhờ hoạt động lấy ý kiến đánh giá của các doanh nghiệp về chất lượng đào tạo cũng như chất lượng sinh viên, từ đó có những điều chỉnh và đổi mới phương hướng đào tạo, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động.

  • Chú trọng đào tạo theo định hướng ứng dụng

    Chú trọng đào tạo theo định hướng ứng dụng, nhà trường thiết kế chương trình học với 70% thời lượng là thực hành. Thời gian đào tạo được cải cách từ 2 đến 2,5 năm. Trường đặc biệt chú trọng đến khả năng thực hành, tiếp cận và làm chủ công nghệ mới; khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh của sinh viên.

  • Sinh viên sớm làm quen môi trường doanh nghiệp

    Sinh viên thường xuyên được tham quan, trải nghiệm, thực tập, kiến tập tại nhiều doanh nghiệp lớn, từ đó sớm làm quen môi trường doanh nghiệp và từng bước nâng cao kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp hiệu quả.

  • Tạo điều kiện để sinh viên phát triển năng lực bản thân

    Ngoài đào tạo kiến thức chuyên môn, nhà trường còn tạo mọi điều kiện nhằm giúp sinh viên phát triển tối đa năng lực bản thân với các kỹ năng mềm cần thiết: Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng làm việc nhóm, Kỹ năng thuyết trình, Kỹ năng phản biện, Kỹ năng giải quyết vấn đề, Kỹ năng chuyên ngành.

Thông tin tuyển sinh trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn là một sự lựa chọn hàng đầu dành cho các bạn sinh viên sau khi tốt nghiệp THPT. Với số lượng gần 8,000 sinh viên đang theo học tại trường và hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp có kiến thức và kỹ năng thực hành ở trình độ Cao đẳng hiện đang công tác tại nhiều vị trí khác nhau trong các lĩnh vực Y tế, Giáo dục, Kinh tế, Tài chính, Kỹ thuật, Công nghệ.

Kể từ năm 2017, sinh viên học tại Trường sẽ được đảm bảo có việc làm sau khi tốt nghiệp. Sau khi ký kết hợp tác với doanh nghiệp về việc nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc kết hợp xây dựng chương trình đào tạo, tiếp nhận sinh viên học tập và làm việc tại doanh nghiệp. Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ký hợp đồng cam kết việc làm giữa Nhà trường và sinh viên để thực hiện cam kết giữa Nhà trường và xã hội.

  • Xét tuyển bằng điểm học bạ 3 năm cấp 3

    Học sinh được xét điểm trung bình năm lớp 10, lớp 11 và học kỳ 1 lớp 12 đạt từ 6 điểm trở lên.

  • Xét tuyển kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT

    Học sinh tốt nghiệp THPT đủ điều kiện học Cao đẳng Chính quy, tùy khối ngành xét tuyển.

  • Xét tuyển bằng điểm học bạ lớp 12

    Học sinh được xét điểm trung bình 3 môn lớp 12 theo tổ hợp xét tuyển đạt từ 6 điểm trở lên.

  • Ưu đãi đến 50% học phí cho sinh viên nhập học sớm

    Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn tặng ngay ưu đãi lên 50% học phí cho sinh viên nhập học sớm.

Ưu điểm sinh viên trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn đào tạo đa dạng các ngành nghề, cụ thể bao gồm gần 64 chuyên ngành bậc cao đẳng ở 11 khoa, trong đó có: Khoa Y Dược, khoa Kinh tế, khoa Sư phạm, khoa Công nghệ ô tô, ngành chăm sóc sắc đẹp, khoa Ngoại ngữ, khoa Du lịch, khoa Kỹ thuật - Công nghệ, khoa Điện tử tự động, khoa Mỹ thuật ứng dụng, khoa Truyền thông và Marketing.

  • Chuyên môn giỏi

    Lý thuyết vững vàng, thực hành thành thạo; 100% sinh viên tốt nghiệp Đại Việt Sài Gòn có việc làm đúng chuyên ngành sau khi tốt nghiệp.

  • Kỹ năng đa dạng

    Phát triển tối đa năng lực bản thân với các kỹ năng mềm cần thiết: Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng làm việc nhóm; Kỹ năng thuyết trình; Kỹ năng phản biện; Kỹ năng giải quyết vấn đề; Kỹ năng chuyên ngành.

  • Môi trường rèn luyện

    Sinh viên được rèn luyện trong môi trường nghiêm túc các đức tính: Hiếu thảo với cha mẹ; Thượng tôn pháp luật; Tinh thần phụng sự cộng đồng.

Ngành y dược trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn là một trong những trường hàng đầu tại Việt Nam về đào tạo nhân lực trong ngành y dược. Với các chương trình chất lượng và cơ sở vật chất hiện đại, trường tập trung vào việc phát triển và nâng cao năng lực của sinh viên trong lĩnh vực y dược.

Ngành kỹ thuật công nghệ trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn với chương trình đào tạo nhân lực chuyên sâu trong lĩnh vực kỹ thuật công nghệ, đặc biệt là lập trình viên. Với cơ sở vật chất hiện đại và đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm, trường cam kết cung cấp cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng cần thiết để thành công trong ngành công nghệ thông tin.

Ngành kinh tế trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Chương trình đào tạo kinh tế tại trường tập trung vào việc cung cấp cho sinh viên những kiến thức nền tảng về lĩnh vực kinh tế, từ lý thuyết đến thực hành. Sinh viên sẽ được tiếp xúc với các môn học như kinh tế học, quản trị kinh doanh, tài chính ngân hàng, quản lý dự án và tiếp thị, giúp họ hiểu sâu hơn về cơ sở lý thuyết và ứng dụng thực tiễn trong môi trường kinh doanh.

Ngành sư phạm trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân lực cho ngành sư phạm mầm non. Với cam kết đem lại chất lượng giáo dục tốt nhất, trường cung cấp các chương trình đào tạo chuyên sâu và chất lượng, chuẩn bị sinh viên sẵn sàng cho một sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục mầm non.

Ngành ngoại ngữ trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Chương trình đào tạo tại trường được thiết kế một cách tổng quát và toàn diện, từ việc xây dựng nền tảng vững chắc về ngữ pháp, từ vựng đến việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp và hiểu biết văn hóa của các quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó. Sinh viên sẽ được tiếp xúc với các môn học như ngữ âm, ngữ pháp, viết lách và giao tiếp, giúp họ phát triển kỹ năng ngôn ngữ một cách toàn diện.

Ngành công nghệ ô tô trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn ?

Chương trình đào tạo tại trường tập trung vào việc trang bị sinh viên với kiến thức về cơ sở lý thuyết và kỹ năng thực hành trong lĩnh vực công nghệ ô tô. Sinh viên sẽ được tiếp xúc với các môn học như cơ khí ô tô, điện tử ô tô, lập trình điều khiển và kỹ thuật đo lường ô tô, giúp họ hiểu rõ hơn về các hệ thống và công nghệ trong ngành công nghiệp ô tô.

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn có hợp tác cùng doanh nghiệp không ?

Với tinh thần hợp tác mạnh mẽ và cam kết đem lại lợi ích cho cả sinh viên và doanh nghiệp, trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn tiếp tục mở rộng và phát triển các dự án hợp tác, góp phần vào sự phát triển bền vững của cả cộng đồng và nền kinh tế. Các dự án hợp tác của trường bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng, và tạo điều kiện cho sinh viên thực tập và làm việc tại các doanh nghiệp hàng đầu. Điều này giúp sinh viên tiếp cận và áp dụng kiến thức một cách linh hoạt trong môi trường thực tế, từ đó nâng cao khả năng thích ứng và sáng tạo trong công việc sau này.

Chương trình đào tạo gắn kết doanh nghiệp: Sinh viên được học tập và thực tập tại các doanh nghiệp, giúp sinh viên có kiến thức và kỹ năng phù hợp với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Chương trình cam kết việc làm: Trường cam kết giới thiệu việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Chương trình học bổng: Doanh nghiệp tài trợ học bổng cho sinh viên có học lực và điểm rèn luyện tốt.

Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn có hợp tác cùng các trường đại học không ?

Với tinh thần hợp tác mạnh mẽ và cam kết đem lại lợi ích cho cả sinh viên và doanh nghiệp, trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn tiếp tục mở rộng và phát triển các dự án hợp tác, góp phần vào sự phát triển bền vững của cả cộng đồng và nền kinh tế. Các dự án hợp tác của trường bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng, và tạo điều kiện cho sinh viên thực tập và làm việc tại các doanh nghiệp hàng đầu. Điều này giúp sinh viên tiếp cận và áp dụng kiến thức một cách linh hoạt trong môi trường thực tế, từ đó nâng cao khả năng thích ứng và sáng tạo trong công việc sau này.

Chương trình liên kết đào tạo: Sinh viên học tập tại trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn và được cấp bằng đại học của trường đại học liên kết.

Chương trình chuyển tiếp tín chỉ: Sinh viên có thể chuyển tiếp tín chỉ sang các trường đại học khác để tiếp tục học lên cao.